Sign In

Một nguồn nước, nhiều nhu cầu

08:00 17/09/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Những dòng sông cung cấp nguồn nước thiết yếu cho sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế. Từ nông nghiệp, chăn nuôi đến thủy điện, mỗi hoạt động đều có nhu cầu nước khác nhau. Vì vậy, quản lý nguồn nước không chỉ là bảo đảm đủ nước mà còn phải đáp ứng đúng nhu cầu, đúng thời điểm và ổn định theo mùa.

Sau khi tạo nguồn nước cho các hồ thủy điện ở thượng nguồn, sông Krông Nô tiếp tục cung cấp nước tưới cho ruộng đồng, nuôi thủy sản lồng bè ở hạ lưu

Cũng như nhiều dòng sông trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, sông Krông Nô chảy qua nhiều vùng sản xuất, khu dân cư, công trình thủy lợi, hồ chứa trước khi tiếp tục về hạ lưu. Trên hành trình đó, dòng nước được khai thác cho nhiều mục đích: cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, chăn nuôi, sản xuất công nghiệp và phát điện. Nhu cầu sử dụng vì thế không tập trung vào một thời điểm hay một khu vực mà phân bố trên toàn lưu vực, trong khi lượng nước của dòng sông lại biến động mạnh theo mùa.

Tại thôn Xuyên Tân, xã Quảng Phú, gia đình ông Nguyễn Văn Lành có hơn 2 ha đất sản xuất, trong đó hơn 1,5 ha trồng cà phê, phần diện tích còn lại luân canh bắp, khoai lang và đậu. Với người sản xuất, nguồn nước không chỉ quyết định năng suất mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu tư. Khi mực nước sông xuống thấp, việc đưa nước lên đồng khó khăn hơn, thời gian bơm kéo dài, chi phí nhiên liệu tăng và nguy cơ cây trồng thiếu nước cũng lớn hơn.

Không chỉ cung cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt và phát điện, sông Sêrêpốk còn tạo điều kiện cho giao thông đường thủy và các hoạt động kinh tế gắn với mặt nước

Ông Lành cho biết, trước đây dòng nước dưới sông tương đối ổn định trong năm, nhưng những năm gần đây, vào mùa khô, mực nước có thời điểm rút xa bờ. Để bảo đảm nước tưới, gia đình phải chủ động thời gian bơm, thậm chí có những ngày phải chờ đến 1 - 2 giờ sáng mới lấy được nước. Đây là một ví dụ cho thấy thiếu nước không nhất thiết phải là tình trạng một dòng sông hoàn toàn cạn kiệt; chỉ cần mực nước giảm xuống dưới khả năng khai thác của công trình, thiết bị hoặc vị trí lấy nước cũng có thể tạo ra thiếu nước đối với sản xuất.

Không chỉ phục vụ nông nghiệp, nguồn nước trên sông Krông Nô và hệ thống sông Sêrêpốk còn phải đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, chăn nuôi, sản xuất công nghiệp và phát điện. Trên cùng một lưu vực, nhu cầu nước của các ngành có thể xuất hiện đồng thời hoặc tăng mạnh vào những thời kỳ khác nhau. Đây chính là nguyên nhân khiến việc phân bổ nguồn nước cần được tính toán theo không gian, thời gian và mức độ ưu tiên, thay vì chỉ dựa trên tổng lượng nước có trên toàn lưu vực.

Theo phương án phân bổ nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cả về số lượng và yêu cầu chất lượng, trong khi nguồn nước phân bố không đồng đều giữa các khu vực. Các hồ chứa thủy lợi, thủy điện vì vậy đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa dòng chảy, tích nước vào thời kỳ dồi dào để sử dụng trong thời kỳ khô hạn. Tuy nhiên, khả năng tích trữ và điều tiết cũng có giới hạn; trong những năm nắng nóng kéo dài, lượng nước về hồ thấp hoặc nhu cầu sử dụng tăng cao, dung tích hữu ích của các công trình có thể suy giảm nhanh.

Thực tế trên lưu vực sông Sêrêpốk cho thấy quy mô nhu cầu nước là rất lớn. Trong mùa khô năm 2026, nhu cầu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp được tính toán ở mức khoảng 1,419 tỷ m³, trong khi các hồ thủy điện cũng cần một lượng nước đáng kể để bảo đảm vận hành phát điện. Như vậy, một dòng sông đồng thời phải đáp ứng nhiều mục tiêu phát triển, từ bảo đảm an ninh nước cho dân sinh, duy trì sản xuất nông nghiệp đến cung cấp nguồn nước cho năng lượng.

Tuy nhiên, nguồn nước không phải là nguồn lực vô hạn. Trên lưu vực sông Sêrêpốk, nguy cơ thiếu nước được xác định tại một số khu vực thuộc các tiểu vùng thượng lưu, hạ lưu Krông Nô và vùng thượng, hạ lưu Sêrêpốk, nơi tập trung nhiều hoạt động sản xuất và nhu cầu sử dụng nước.

Giới hạn của những dòng sông

Các kịch bản nguồn nước mùa cạn năm 2026 cho thấy diễn biến nguồn nước không hoàn toàn theo một chiều. Trên lưu vực sông Đồng Nai, dòng chảy đến hồ Đơn Dương, Đại Ninh trong những tháng đầu năm nhìn chung cao hơn trung bình giai đoạn 2015 - 2025. Trên lưu vực Sêrêpốk, dòng chảy đến hồ Buôn Tua Srah và Buôn Kuốp cũng được tính toán cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 10 - 15%. Tuy nhiên, lượng nước về hồ cao hơn trung bình không đồng nghĩa mọi khu vực trên lưu vực đều không có nguy cơ thiếu nước.

Việc khai thác dòng sông cho nhiều mục đích đang tạo áp lực ngày càng lớn lên nguồn nước và hệ sinh thái ven sông

Bởi dòng chảy có sự khác biệt rất lớn theo thời gian và không gian. Một khu vực có thể có lượng nước tương đối dồi dào trong một thời kỳ nhưng vẫn thiếu nước vào thời điểm nhu cầu tưới tăng cao hoặc khi mực nước xuống dưới cao trình lấy nước. Tương tự, nguồn nước tích trữ trong các hồ chứa có thể bảo đảm cho một số vùng được hưởng lợi từ hệ thống công trình lớn, nhưng những khu vực nằm ngoài phạm vi phục vụ vẫn có thể đối mặt với thiếu nước cục bộ.

Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý trong mùa khô, khi lượng mưa ít, bốc hơi lớn, dòng chảy tự nhiên suy giảm trong khi nhu cầu tưới cho cây trồng lại tăng. Trên lưu vực Sêrêpốk, nhu cầu nước cho nông nghiệp trong mùa cạn năm 2026 được tính toán ở mức khoảng 2 tỷ m³ theo số liệu trong phương án. Sự chênh lệch giữa nguồn cung tự nhiên và nhu cầu sử dụng tại từng thời điểm có thể tạo áp lực lớn lên hệ thống hồ chứa, công trình lấy nước và dòng chảy hạ du.

Đến ngày 15/8/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn đạt khoảng 461,47 triệu m³, tương đương 50,8% dung tích thiết kế. Con số này cho thấy lượng nước tích trữ vẫn còn đáng kể nhưng chưa thể xem là bảo đảm cho toàn bộ nhu cầu trong các tháng tiếp theo, bởi dung tích thiết kế không phải toàn bộ đều có thể khai thác cho mọi mục đích và khả năng bổ sung nước còn phụ thuộc diễn biến mưa, dòng chảy và chế độ vận hành công trình.

Trong khi đó, mưa trên địa bàn có thể xuất hiện trên diện rộng nhưng phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian. Những trận mưa lớn trong thời gian ngắn có thể làm gia tăng dòng chảy tức thời nhưng không nhất thiết tạo ra lượng nước tích trữ tương ứng trong các hồ chứa hoặc bổ sung trực tiếp cho những khu vực đang thiếu nước. Ngược lại, các đợt khô hạn kéo dài làm giảm dòng chảy, tăng nhu cầu tưới và khiến áp lực khai thác nguồn nước ngày càng lớn.

Theo các dự báo khí hậu được sử dụng trong công tác quản lý nguồn nước, khả năng xuất hiện El Niño với cường độ mạnh cũng là yếu tố cần được tính đến khi xây dựng phương án cấp nước cho mùa khô 2026 - 2027. Nếu nhiệt độ tăng, lượng mưa giảm hoặc phân bố mưa tiếp tục bất thường, thời gian và mức độ thiếu nước tại các khu vực nhạy cảm có thể gia tăng, đặc biệt ở những nơi phụ thuộc nhiều vào nguồn nước mặt và chưa có hệ thống công trình điều tiết lớn.

Khai thác theo khả năng đáp ứng của nguồn nước

Thực tế cho thấy, vấn đề của quản lý nguồn nước hiện nay không đơn thuần là khai thác thêm nước, mà là khai thác đến đâu, vào thời điểm nào và phân bổ như thế nào để các nhu cầu thiết yếu không bị ảnh hưởng. Khi sản xuất nông nghiệp mở rộng, dân số và nhu cầu sinh hoạt tăng, hoạt động công nghiệp và phát điện tiếp tục phát triển, áp lực lên các dòng sông cũng ngày càng lớn.

Do đó, việc xác định khả năng đáp ứng của từng nguồn nước theo mùa, theo từng tiểu lưu vực và từng khu vực sử dụng nước có ý nghĩa quyết định đối với quy mô khai thác. Những khu vực có nguy cơ thiếu nước cần được nhận diện sớm để chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng, kế hoạch cấp nước và phương án vận hành hồ chứa; đồng thời ưu tiên nguồn nước cho sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu.

Định hướng của tỉnh là khai thác nguồn nước phù hợp với khả năng đáp ứng của từng lưu vực; tăng cường điều hòa, phân phối dòng chảy; nâng cao năng lực tích trữ và vận hành các công trình thủy lợi, thủy điện; ưu tiên nước cho sinh hoạt, sản xuất thiết yếu và các khu vực có nguy cơ thiếu nước. Cùng với đó là bảo vệ nguồn sinh thủy, hạn chế suy giảm chất lượng và trữ lượng nước, hiện đại hóa mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn và tài nguyên nước, tăng cường chia sẻ dữ liệu phục vụ điều hành.

Khi nguồn nước được theo dõi sát hơn, nhu cầu được lượng hóa cụ thể hơn và việc phân bổ được thực hiện theo khả năng thực tế của từng dòng sông, mỗi mét khối nước sẽ được sử dụng hiệu quả hơn. Đó cũng là cơ sở để vừa duy trì các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm an toàn nguồn nước cho cộng đồng và khả năng phục hồi lâu dài của các hệ thống sông.

Phòng Thông tin KTTV phục vụ cộng đồng

Ý kiến

Bảo vệ môi trường nguồn nước, ứng phó biến đổi khí hậu để tăng trưởng bền vững

Hướng tới mục tiêu trở thành một trong những cực tăng trưởng của vùng Thủ đô vào năm 2030, Phú Thọ đang đặt yêu cầu bảo vệ môi trường song hành với phát triển công nghiệp, đô thị và hạ tầng. Sau hợp nhất, quy mô địa bàn và dân số tăng lên, đòi hỏi tỉnh quản lý chặt nguồn thải, nâng cao năng lực xử lý rác, bảo vệ rừng và nguồn nước, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp chuyển sang phương thức sản xuất tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải.

Ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng

Ngày 5/10, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1928/QĐ-TTg ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng nhằm nâng cao hiệu quả điều tiết nguồn nước, bảo đảm an toàn công trình, phòng chống lũ và đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước ở hạ du.

Nguồn nước về ĐBSCL mùa khô 2026-2027 có thể ở mức thấp, xâm nhập mặn xuất hiện từ cuối tháng 12

Nguồn nước về Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong mùa khô 2026-2027 được dự báo ở mức thấp, làm gia tăng nguy cơ thiếu nước ngọt tại các vùng sản xuất lúa, lúa - tôm và cây ăn trái. Tại hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé, xâm nhập mặn có khả năng xuất hiện từ cuối tháng 12/2026, gia tăng trong các tháng cuối mùa khô và đạt mức cao vào các đợt triều cường cuối tháng 3 đến giữa tháng 4/2027.