Sign In

Bảo vệ môi trường nguồn nước, ứng phó biến đổi khí hậu để tăng trưởng bền vững

09:16 07/10/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Hướng tới mục tiêu trở thành một trong những cực tăng trưởng của vùng Thủ đô vào năm 2030, Phú Thọ đang đặt yêu cầu bảo vệ môi trường song hành với phát triển công nghiệp, đô thị và hạ tầng. Sau hợp nhất, quy mô địa bàn và dân số tăng lên, đòi hỏi tỉnh quản lý chặt nguồn thải, nâng cao năng lực xử lý rác, bảo vệ rừng và nguồn nước, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp chuyển sang phương thức sản xuất tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải.

Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Phú Thọ mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình. Tỉnh có diện tích khoảng 9.361 km², dân số hơn 4 triệu người và 148 đơn vị hành chính cấp xã. Không gian phát triển mở rộng tạo điều kiện kết nối các trung tâm công nghiệp, đô thị với vùng trung du, miền núi và những khu vực có lợi thế về rừng, hồ, du lịch sinh thái. Tuy nhiên, việc quản lý môi trường cũng phải bao quát những địa bàn có điều kiện hạ tầng và khả năng cung cấp dịch vụ rất khác nhau. 

Áp lực môi trường không chỉ đến từ số lượng dự án mới mà còn từ hoạt động sản xuất, vận chuyển, xây dựng và sinh hoạt hằng ngày. Nước thải công nghiệp cần được kiểm soát trước khi đi vào hệ thống sông, hồ; rác sinh hoạt phải có nơi tiếp nhận và xử lý ổn định; các cơ sở phát sinh chất thải nguy hại cần được theo dõi từ khâu lưu giữ đến vận chuyển, xử lý. Vì vậy, chất lượng tăng trưởng phụ thuộc cả vào khả năng đầu tư hạ tầng môi trường và hiệu quả giám sát sau khi dự án đi vào hoạt động.

Phú Thọ: Nâng cao tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới

Kiểm soát nguồn thải từ khu công nghiệp đến khu dân cư

Phú Thọ tăng cường bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm

Theo báo cáo chính trị được công bố trên Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh, tỷ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn là 82,4%, trong khi tỷ lệ tương ứng tại cụm công nghiệp là 56,3%. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị và khu dân cư tập trung đạt 98%, còn khu vực nông thôn đạt 75%. Những số liệu này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa các nhóm địa bàn, nhất là về hạ tầng xử lý nước thải cụm công nghiệp và dịch vụ thu gom rác nông thôn. 

Việc có công trình xử lý nước thải mới là một phần của yêu cầu bảo vệ môi trường. Hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào tỷ lệ doanh nghiệp đấu nối, công suất tiếp nhận, việc vận hành thường xuyên và chất lượng nước sau xử lý. Đối với những nơi chưa hoàn thiện hệ thống tập trung, cần xác định rõ phương án quản lý nước thải của từng cơ sở, tiến độ đầu tư và trách nhiệm của đơn vị quản lý hạ tầng.

Tại buổi làm việc với Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ cho biết tỉnh quan tâm siết chặt bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề. Các nội dung trao đổi cũng đề cập việc cập nhật dữ liệu môi trường, truyền dữ liệu quan trắc tự động liên tục và nâng cao hiệu quả quản lý nguồn thải lớn. Đây là hướng tiếp cận giúp cơ quan chức năng theo dõi hoạt động xả thải thường xuyên hơn, bên cạnh kiểm tra trực tiếp. 

Ở khu vực dân cư, vụ việc tại bãi rác Đồng Lợ cho thấy việc thu gom phải đi cùng năng lực xử lý cuối cùng. Theo VTV Times, ngày 5/5/2026, chính quyền xã Cẩm Khê đã kiểm tra thực tế sau phản ánh về ảnh hưởng của bãi rác tới người dân khu Đồng Minh. Phương án trước mắt gồm phun khử khuẩn, xử lý môi trường, phủ bạt kín, đóng bãi rác và dừng tiếp nhận rác tại khu vực. 

Các biện pháp giảm mùi, che phủ và vệ sinh chỉ giải quyết tình trạng trước mắt. Để tránh tái diễn, địa phương cần duy trì tuyến thu gom, có hợp đồng vận chuyển ổn định và đưa rác đến cơ sở xử lý phù hợp. Điểm tập kết cũng cần được quản lý để hạn chế nước rỉ rác, ruồi muỗi và tình trạng rác lưu lại quá lâu gần nhà dân. Nếu thiếu khâu xử lý cuối cùng, việc di chuyển rác có thể chỉ chuyển áp lực ô nhiễm từ nơi này sang nơi khác.

Đối với chất thải có nguy cơ nguy hại, yêu cầu kiểm soát cần chặt chẽ hơn. Theo Báo Nông nghiệp và Môi trường, ngày 14/5/2026, các cơ quan chức năng kiểm tra một khu vực tại xã Thịnh Minh sau phản ánh về hoạt động tập kết, xử lý chất thải. Tại một nhà xưởng, đoàn kiểm tra ghi nhận 45 bao tải và năm đống pin đã qua sử dụng, chín thùng nhựa chứa chất lỏng chưa xác định; bên ngoài có 17 bao tải chứa nhựa, sắt và bản mạch điện tử. Những thông tin này đặt ra yêu cầu xác minh loại chất thải, nguồn gốc, điều kiện lưu giữ và phạm vi hoạt động được phép của cơ sở. Kết luận vi phạm và trách nhiệm cụ thể phải căn cứ kết quả điều tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền. Với pin và linh kiện điện tử đã qua sử dụng, việc quản lý không phù hợp có thể tạo nguy cơ ô nhiễm đất, nước hoặc phát sinh sự cố trong quá trình lưu giữ, xử lý.

Chuyển đổi xanh cần gắn với hiệu quả sản xuất

Trong lĩnh vực giảm phát thải, theo thông tin của Sở Nông nghiệp và Môi trường được Báo Tiền Phong dẫn, Phú Thọ có 177 cơ sở thuộc diện phải kiểm kê khí nhà kính theo danh mục cập nhật tại Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg ngày 10/8/2026. Kiểm kê là cơ sở để doanh nghiệp xác định nguồn phát thải chính và xây dựng phương án giảm phát thải phù hợp với hoạt động sản xuất. 

Về thực hành, doanh nghiệp cần tập hợp dữ liệu tiêu thụ điện, nhiên liệu, nguyên liệu và các hoạt động liên quan đến phát thải. Dữ liệu có chất lượng giúp nhận diện công đoạn sử dụng nhiều năng lượng, đánh giá hiệu quả đổi mới thiết bị và theo dõi kết quả tiết kiệm qua từng năm. Những giải pháp như cải thiện hiệu suất động cơ, giảm thất thoát nhiệt, tối ưu vận hành dây chuyền hoặc tái sử dụng nước sau xử lý cần được lựa chọn theo điều kiện kỹ thuật của từng cơ sở.

Các tỷ lệ hoàn thành kiểm kê cũng cần được trình bày rõ theo từng kỳ. Trong số liệu của bản gốc, 84 cơ sở tương ứng 75,68% và 34 cơ sở tương ứng 30,63% đều được tính trên nhóm khoảng 111 cơ sở, không phải danh mục 177 cơ sở cập nhật năm 2026. Vì vậy, khi đánh giá tiến độ, cần làm rõ danh sách áp dụng, năm dữ liệu kiểm kê và thời điểm báo cáo, tránh so sánh trực tiếp những nhóm cơ sở khác nhau.

Kinh tế tuần hoàn có thể được cụ thể hóa bằng giảm sử dụng nguyên liệu đầu vào, kéo dài thời gian sử dụng sản phẩm, thu hồi vật liệu và giảm lượng chất thải phải xử lý. Trong nông nghiệp, những hướng phù hợp gồm tận dụng phụ phẩm để sản xuất phân hữu cơ, quản lý chất thải chăn nuôi và áp dụng tưới tiết kiệm. Trong công nghiệp, việc tái sử dụng nước, thu hồi nhiệt hoặc sử dụng phụ phẩm cần đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và môi trường; không thể coi mọi chất thải đều có thể đưa trở lại sản xuất.

Ở khu dân cư, phân loại rác tại nguồn chỉ phát huy hiệu quả khi có hệ thống thu gom và xử lý tương ứng. Nếu người dân phân loại nhưng rác lại bị trộn chung khi vận chuyển, khó duy trì sự tham gia lâu dài. Do đó, tuyên truyền cần đi cùng hướng dẫn cụ thể, phương tiện chứa rác phù hợp, lịch thu gom rõ ràng và đầu ra cho vật liệu tái chế.

 

Bảo vệ rừng, nguồn nước và hạ tầng trước thiên tai

Theo báo cáo chính trị của tỉnh, tỷ lệ che phủ rừng đạt 43,5%. Báo cáo cũng nêu tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn là 58,6%, thấp hơn tỷ lệ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh. Sự khác biệt này cho thấy nhiệm vụ bảo vệ nguồn nước cần gắn với nâng chất lượng dịch vụ cấp nước, kiểm soát ô nhiễm đầu nguồn và theo dõi chất lượng nước đến người sử dụng. 

Bảo vệ rừng còn có ý nghĩa đối với giữ đất, điều tiết nước và duy trì sinh kế tại các địa bàn miền núi. Tuy nhiên, hiệu quả không chỉ thể hiện ở tỷ lệ che phủ mà còn phụ thuộc chất lượng rừng, vị trí rừng đầu nguồn và mức độ tác động của khai thác, xây dựng. Quản lý rừng vì vậy cần kết hợp phòng cháy, phục hồi khu vực suy thoái và kiểm soát những hoạt động có nguy cơ làm mất ổn định sườn dốc.

Trước nguy cơ mưa lớn, ngập úng và sạt lở, quy hoạch phát triển cần tính đến điều kiện thoát nước và an toàn địa hình. Các khu đô thị, khu công nghiệp mới cần có không gian tiêu thoát, lưu giữ nước mưa; vùng miền núi cần rà soát khu dân cư gần taluy, khe suối và điểm có nguy cơ sạt lở. Đầu tư hạ tầng chống chịu thiên tai cũng cần đi cùng bảo trì, cảnh báo sớm và phương án sơ tán.

Để theo dõi chuyển đổi xanh, tỉnh có thể sử dụng những chỉ số cụ thể như chất lượng nước sau xử lý, mức tiêu thụ năng lượng trên đơn vị sản phẩm, tỷ lệ rác thực sự được xử lý phù hợp và số điểm ô nhiễm được giải quyết. Khi các kết quả được đo lường và công khai, mục tiêu tăng trưởng sẽ gắn chặt hơn với chất lượng môi trường và đời sống người dân.

Phòng Thông tin KTTV phục vụ cộng đồng

Ý kiến

Ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng

Ngày 5/10, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1928/QĐ-TTg ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng nhằm nâng cao hiệu quả điều tiết nguồn nước, bảo đảm an toàn công trình, phòng chống lũ và đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước ở hạ du.

Nguồn nước về ĐBSCL mùa khô 2026-2027 có thể ở mức thấp, xâm nhập mặn xuất hiện từ cuối tháng 12

Nguồn nước về Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong mùa khô 2026-2027 được dự báo ở mức thấp, làm gia tăng nguy cơ thiếu nước ngọt tại các vùng sản xuất lúa, lúa - tôm và cây ăn trái. Tại hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé, xâm nhập mặn có khả năng xuất hiện từ cuối tháng 12/2026, gia tăng trong các tháng cuối mùa khô và đạt mức cao vào các đợt triều cường cuối tháng 3 đến giữa tháng 4/2027.
Một nguồn nước, nhiều nhu cầu

Một nguồn nước, nhiều nhu cầu

Những dòng sông cung cấp nguồn nước thiết yếu cho sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế. Từ nông nghiệp, chăn nuôi đến thủy điện, mỗi hoạt động đều có nhu cầu nước khác nhau. Vì vậy, quản lý nguồn nước không chỉ là bảo đảm đủ nước mà còn phải đáp ứng đúng nhu cầu, đúng thời điểm và ổn định theo mùa.