Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Văn bản hợp nhất 43/VBHN-BNNMT, trong đó, việc phân công lực lượng và xử lý tại chỗ trong mùa lũ được nhấn mạnh.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến mưa lũ ngày càng cực đoan, hệ thống đê điều không chỉ đóng vai trò là công trình hạ tầng thủy lợi mà còn là tuyến phòng thủ an toàn cho người dân sinh sống quanh vùng. Chính vì vậy, Văn bản hợp nhất 43/VBHN-BNNMT đã hệ thống hóa toàn bộ quy trình tuần tra, canh gác bảo vệ đê điều trong mùa lũ theo hướng rõ ràng, thống nhất và dễ áp dụng nhất trong thực tiễn.
Một trong những nội dung quan trọng của văn bản này là phân định rõ trách nhiệm và tuyến quản lý. Theo đó, lực lượng tham gia ngoài cán bộ chuyên trách về đê điều còn có sự phối hợp của chính quyền địa phương và lực lượng tại chỗ. Việc phân công tuyến đê, vị trí canh gác và trách nhiệm cụ thể cho từng nhóm lực lượng giúp hạn chế chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ.
Ngoài ra, nhiệm vụ trực canh bảo vệ đê điều không còn là hoạt động mang tính thời vụ hay “ứng phó khi có sự cố”, hoạt động này đã được chuyển dịch sang trạng thái “phòng ngừa liên tục”. Theo đó, hàng năm trước mùa mưa, lũ, UBND xã nơi có đê phải tổ chức lực lượng lao động tại địa phương để tuần tra, canh gác đê và thường trực trên các điếm canh đê hoặc nhà dân khu vực gần đê (đối với những khu vực chưa có điếm canh đê), khi có báo động lũ từ cấp I trở lên đối với tuyến sông có đê. Hơn nữa, lực lượng tuần tra, canh gác đê được tổ chức thành các đội, do UBND xã ra quyết định thành lập; từ 1 đến 2 km đê thành lập 1 đội; mỗi đội có từ 12 đến 18 người.
Văn bản hợp nhất 43/VBHN-BNNMT cũng nhấn mạnh đến cơ chế phát hiện sự cố đê điều. Theo đó, lực lượng tuần tra có trách nhiệm thường xuyên theo dõi các dấu hiệu bất thường trên thân đê, bao gồm: Nứt, sụt lún, thẩm lậu nước, xói lở hoặc các biến dạng có nguy cơ mất an toàn. Những dấu hiệu này, nếu không được phát hiện sớm sẽ tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố nghiêm trọng như tràn đê hoặc vỡ đê khi lũ lớn
Ngoài ra, nguyên tắc xử lý ban đầu ngay tại hiện trường cũng được quy định rõ. Cụ thể, khi phát hiện có hư hỏng, người tuần tra phải tiến hành phải xác định loại hư hỏng, vị trí, đặc điểm, kích thước của loại hư hỏng; xác định mực nước sông so với mặt đê tại vị trí phát sinh hư hỏng; đánh dấu bằng cách ghi bảng, cắm tiêu báo hiệu vị trí hư hỏng; nếu sự cố nghiêm trọng, phải cấm người, vật, xe cơ giới đi qua và bố trí người canh gác tại chỗ để theo dõi thường xuyên diễn biến của hư hỏng; báo cáo kịp thời và cụ thể tình hình hư hỏng cho đội trưởng hoặc đội phó, cán bộ chuyên trách quản lý đê điều và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp xã… Cách tiếp cận này giúp giảm đáng kể “độ trễ phản ứng” - một vấn đề từng được xem là điểm yếu trong quản lý thiên tai khi mọi quyết định đều phải chờ cấp trên phê duyệt.
Song song với đó, văn bản cũng yêu cầu thiết lập cơ chế liên lạc và báo cáo nhanh giữa các cấp. Đặc biệt, trường hợp xét thấy hư hỏng có khả năng diễn biến xấu, đội trưởng phải cử người tăng cường, theo dõi tại chỗ và cứ 30 phút phải báo cáo một lần. Trường hợp hư hỏng có nguy cơ đe dọa an toàn của công trình, phải tiến hành xử lý gấp nhằm ngăn chặn và hạn chế hư hỏng phát triển thêm đồng thời phát tín hiệu báo động theo quy định. Trong khi chờ lực lượng ứng cứu, những người được phân công theo dõi tuyệt đối không được rời vị trí được giao.
Hơn nữa, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc tổ chức canh gác và huy động lực lượng cũng được nhấn mạnh. Theo đó, UBND xã nơi có đê có trách nhiệm tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác đê; hướng dẫn hoạt động và kiểm tra, đôn đốc công tác tuần tra, canh gác đê trong mùa lũ trên các tuyến đê thuộc địa bàn; chủ trì, phối hợp với Hạt Quản lý đê hoặc cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đê điều và phòng, chống thiên tai thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức huấn luyện nghiệp vụ tuần tra, canh gác, hộ đê, phòng, chống lụt, bão cho lực lượng tuần tra, canh gác đê.