Sign In

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) xác nhận năm 2025 là một trong những năm nóng nhất từng được ghi nhận

11:01 11/06/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Geneva, Thụy Sĩ (WMO) – Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) đã xác nhận rằng năm 2025 là một trong ba năm nóng nhất từng được ghi nhận, tiếp tục chuỗi nhiệt độ toàn cầu bất thường. 11 năm qua là 11 năm nóng nhất từng được ghi nhận, và hiện tượng nóng lên của đại dương vẫn tiếp diễn không ngừng.

Theo phân tích tổng hợp của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) từ tám bộ dữ liệu, nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu cao hơn 1,44 °C (với sai số ± 0,13 °C) so với mức trung bình giai đoạn 1850-1900. Hai trong số các bộ dữ liệu này xếp năm 2025 là năm nóng thứ hai trong 176 năm ghi nhận, và sáu bộ dữ liệu còn lại xếp năm 2025 là năm nóng thứ ba.

Ba năm gần đây nhất, từ 2023 đến 2025, là ba năm nóng nhất trong cả tám bộ dữ liệu. Nhiệt độ trung bình ba năm (2023-2025) cao hơn 1,48 °C (với sai số ± 0,13 °C) so với thời kỳ tiền công nghiệp. Mười một năm gần đây nhất, từ 2015 đến 2025, là mười một năm nóng nhất trong cả tám bộ dữ liệu.

“Năm 2025 bắt đầu và kết thúc với hiện tượng La Niña làm mát khí hậu, nhưng vẫn là một trong những năm nóng nhất từng được ghi nhận trên toàn cầu do sự tích tụ khí nhà kính giữ nhiệt trong khí quyển. Nhiệt độ cao trên đất liền và đại dương đã góp phần gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan – sóng nhiệt, mưa lớn và bão nhiệt đới dữ dội, nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về các hệ thống cảnh báo sớm,” Tổng thư ký WMO Celeste Saulo cho biết.

 

“Việc giám sát tình trạng khí hậu của WMO, dựa trên việc thu thập dữ liệu toàn cầu một cách hợp tác và khoa học nghiêm ngặt, quan trọng hơn bao giờ hết vì chúng ta cần đảm bảo rằng thông tin về Trái đất phải đáng tin cậy, dễ tiếp cận và có thể hành động được đối với tất cả mọi người,” bà Celeste Saulo nói thêm.

Thông báo của WMO được đưa ra trùng với thời điểm công bố các thông báo về nhiệt độ toàn cầu từ các nhà cung cấp bộ dữ liệu.

Các nguồn dữ liệu này bao gồm Trung tâm Dự báo Thời tiết Tầm trung Châu Âu (ERA5), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JRA-3Q), NASA (GISTEMP v4), Cơ quan Khí tượng và Hải dương học Quốc gia Hoa Kỳ (NOAAGlobalTemp v6), Cơ quan Khí tượng Anh phối hợp với Đơn vị Nghiên cứu Khí hậu tại Đại học East Anglia (HadCRUT.5.1.0.0), và Berkeley Earth (Hoa Kỳ). Năm nay, lần đầu tiên, WMO cũng đã xem xét thêm hai bộ dữ liệu nữa - Bộ dữ liệu Nhiệt độ Thống nhất Động học (DCENT/Anh, Hoa Kỳ) và Bộ dữ liệu Nhiệt độ Bề mặt Hợp nhất của Trung Quốc (CMST).

 

Sáu trong số các bộ dữ liệu dựa trên các phép đo được thực hiện tại các trạm thời tiết, tàu thuyền và phao bằng cách sử dụng các phương pháp thống kê để lấp đầy những khoảng trống trong dữ liệu. Hai bộ dữ liệu – ERA5 và JRA-3Q – là các phân tích lại kết hợp các quan sát trong quá khứ, bao gồm dữ liệu vệ tinh, với các mô hình để tạo ra chuỗi thời gian nhất quán của nhiều biến khí hậu, bao gồm cả nhiệt độ. Các bộ dữ liệu chính đều sử dụng các phương pháp luận hơi khác nhau và do đó có số liệu nhiệt độ hơi khác nhau, và thậm chí cả thứ hạng hàng năm cũng khác nhau.

Năm 2025 được xếp hạng là năm ấm thứ hai trong DCENT và GISTEMP; ấm thứ ba trong sáu bộ dữ liệu còn lại: Berkeley Earth, CMST, ERA5, HadCRUT5, JRA-3Q và NOAAGlobalTemp. Nhiệt độ trung bình toàn cầu thực tế vào năm 2025 được ước tính là 15,08 °C - tuy nhiên, biên độ sai số về nhiệt độ thực tế lớn hơn nhiều, khoảng 0,5 °C, so với độ lệch nhiệt độ năm 2025. Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) - cơ quan của Liên Hợp Quốc về thời tiết, khí hậu và nguồn nước - tìm cách cung cấp phân tích tổng hợp có thẩm quyền để hỗ trợ việc ra quyết định.

Nhiệt lượng đại dương

Một nghiên cứu riêng biệt được công bố trên tạp chí Advances in Atmospheric Sciences cho biết nhiệt độ đại dương cũng nằm trong số những mức cao nhất được ghi nhận vào năm 2025, phản ánh sự tích lũy nhiệt lâu dài trong hệ thống khí hậu.

Khoảng 90% lượng nhiệt dư thừa do sự nóng lên toàn cầu được lưu trữ trong đại dương, khiến nhiệt lượng đại dương trở thành một chỉ số quan trọng của biến đổi khí hậu. Theo nghiên cứu do Lijing Cheng thuộc Viện Vật lý Khí quyển, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc dẫn đầu, từ năm 2024-2025, lượng nhiệt tích trữ trong 2000 m nước biển trên toàn cầu (OHC) đã tăng khoảng 23 ± 8 Zettajoules so với năm 2024. Con số này tương đương khoảng 200 lần tổng lượng điện năng sản sinh ra trên toàn thế giới vào năm 2024.

Xét theo khu vực, khoảng 33% diện tích đại dương toàn cầu nằm trong top 3 điều kiện ấm nhất trong lịch sử (1958–2025), trong khi khoảng 57% nằm trong top 5, bao gồm Đại Tây Dương nhiệt đới và Nam Đại Tây Dương, Địa Trung Hải, Bắc Ấn Độ Dương và Nam Đại Dương, cho thấy sự ấm lên trên diện rộng của đại dương ở các lưu vực.

 

Nghiên cứu cho thấy nhiệt độ bề mặt biển trung bình toàn cầu hàng năm (SST) vào năm 2025 cao hơn 0,49 °C so với mức cơ sở giai đoạn 1981–2010 và thấp hơn 0,12 ± 0,03 °C so với năm 2024, phù hợp với sự phát triển của hiện tượng La Niña, nhưng vẫn xếp hạng là năm ấm thứ ba trong lịch sử.

 

Tin ngắn: Phòng Thông tin KTTV phục vụ cộng đồng

Nguồn: https://wmo.int/news/media-centre/wmo-confirms-2025-was-one-of-warmest-years-record

Phòng Thông tin KTTV phục vụ cộng đồng

Ý kiến

Biến đổi khí hậu đẩy nông nghiệp châu Âu và thế giới trước nguy cơ khủng hoảng nguồn cung thực phẩm

Biến đổi khí hậu đẩy nông nghiệp châu Âu và thế giới trước nguy cơ khủng hoảng nguồn cung thực phẩm

Biến đổi khí hậu đang ngày càng tác động rõ nét đến an ninh lương thực toàn cầu khi các đợt nắng nóng cực đoan, hạn hán kéo dài và tình trạng thiếu nước xuất hiện với tần suất dày hơn tại nhiều khu vực sản xuất nông nghiệp trọng điểm.

Tình trạng nóng lên toàn cầu khiến băng tan nhanh

Vì sao trái đất càng nóng thì băng càng tan, và băng càng tan thì trái đất lại càng nóng. Đây là một cơ chế được gọi là hồi tiếp tan băng-nhiệt độ (ice-albedo feedback), một trong những vòng hồi tiếp dương quan trọng nhất của hệ thống khí hậu Trái đất.
Những dòng sông lớn

Những dòng sông lớn "khát nước" dưới tác động của biến đổi khí hậu

Nắng nóng cực đoan và hạn hán kéo dài đang khiến nhiều con sông lớn trên thế giới rơi vào tình trạng cạn kiệt chưa từng có, làm đảo lộn đời sống của hàng trăm triệu người và gây thiệt hại nặng nề cho nhiều nền kinh tế. Từ Bắc Mỹ, châu Âu đến châu Á, mực nước tại các dòng sông huyết mạch liên tục giảm xuống mức thấp kỷ lục, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, giao thông đường thủy, phát điện và cân bằng hệ sinh thái.