Sign In

Truyền tin dữ liệu khí tượng thủy văn Việt Nam: từ Morse đến Trí tuệ nhân tạo

18:26 02/10/2026

Chọn cỡ chữ A a  

K · T · T · V
Hồ sơ · Lịch sử ngành

Truyền tin dữ liệu khí tượng thủy văn Việt Nam:từ Morse đến Trí tuệ nhân tạo

Mỗi bản tin dự báo, cảnh báo là kết quả sự kết hợp của hàng nghìn chuỗi số liệu liên tục từ 2.850 trạm, điểm đo khí tượng thuỷ văn (KTTV) trên toàn quốc, hệ thống máy tính và kinh nghiệm được tích lũy, kế thừa qua nhiều thế hệ cán bộ ngành KTTV. Trong hơn một thế kỷ, phương thức truyền dữ liệu KTTV đã chuyển từ ghi chép, điện báo và vô tuyến thủ công sang mạng truyền tin chuyên dụng và truyền dữ liệu gần thời gian thực.

Tác giả: Nguyễn Hoa
−·− − − ···− · 8 ốp/ngày
Phòng Thông tin Vô tuyến điện, Cục Dự báo, Tổng cục Khí tượng Thủy văn. Ảnh: Hà Cường.

Số liệu đến tay người làm nghiên cứu và dự báo ngày càng nhanh hơn và với ngành KTTV, nhanh thêm được một khoảng thời gian là rất quan trọng, nhất là khi có thời tiết nguy hiểm.”

GS.TS. Trần Thục — Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam

01
1867 – 1950 · GIẤY VÀ BÚT

Những bản dữ liệu chép tay

Hình 1. Phiếu quan trắc khí tượng ngày (“Compte Rendu Quotidien”) của Sở Khí tượng Pháp (Météorologie Nationale – E.C.M.), ghi chép tại trạm Île Pattle (Đảo Hoàng Sa), thứ Hai, ngày 2 tháng 1 năm 1950. Nguồn: lưu trữ tại Cục Khí tượng Thủy văn.

Điểm xuất phát của mọi bản tin KTTV là số liệu do quan trắc viên ghi nhận. Tấm phiếu trong hình là một minh chứng tiêu biểu cho những bản dữ liệu chép tay trong lịch sử ngành KTTV.

Tấm phiếu cho thấy quy trình quan trắc khi đó: mỗi ngày, quan trắc viên đọc và ghi khí áp, nhiệt độ, hướng và cấp gió, tầm nhìn xa vào các giờ cố định (trên phiếu có các mốc 3h15, 10h45, 15h15 và 19h15). Các hiện tượng đặc biệt như sương mù, giông, mưa đá đều được đánh dấu thủ công bằng tay, kèm giờ bắt đầu và kết thúc. Toàn bộ khâu ghi chép này – từ đọc số liệu, ghi sổ đến ký xác nhận của quan trắc viên và cán bộ phụ trách – được thực hiện hoàn toàn bằng giấy bút.

3h15
10h45
15h15
19h15
Các mốc giờ trực ghi trên phiếu Hoàng Sa, 1950

Tấm phiếu Hoàng Sa năm 1950 là một trong nhiều tư liệu lịch sử đang được các nhà khoa học số hóa và khai thác lại trong các nghiên cứu gần đây. Mốc ghi nhận sớm nhất được biết đến là những phép đo khí tượng đầu tiên trên đất Việt Nam được thực hiện ngay tại một bệnh viện quân sự ở Sài Gòn vào năm 1867, theo đúng quy trình chuẩn mà Hải quân Pháp thiết lập từ giữa thế kỷ 19. Đó chỉ là những dòng ghi chép rời rạc, phục vụ cho phạm vi hẹp, chưa có phương thức truyền đi xa.

Phải đến cuối thế kỷ 19, khi Cơ quan Khí tượng Đông Dương ra đời, công tác thu thập dữ liệu mới được mở rộng đáng kể, cùng với một mạng lưới dày đặc các trạm khí tượng, khí hậu và trạm đo mưa được tổ chức có hệ thống dựa trên kinh nghiệm của các tu sĩ Dòng Tên tại Đài thiên văn Zi-Ka-Wei ở Trung Quốc, một trong những trung tâm khí tượng học uy tín bậc nhất châu Á thời bấy giờ. Theo thời gian, mạng lưới này ngày càng phát triển nhưng độ bao phủ về dữ liệu vẫn không đồng đều và tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: nhật ký viết tay, báo cáo in, bản đồ, bảng biểu1.

Khi mạng lưới mở rộng, yêu cầu truyền số liệu từ trạm đến nơi sử dụng một cách kịp thời trở nên cấp thiết.

02
1902 – 2000 · THỜI KỲ MÃ MORSE

Điện báo, vô tuyến và facsimile

Từ thời Pháp thuộc, hệ thống truyền tin phục vụ khí tượng ở Đông Dương đã bắt đầu được hình thành. Đài Thiên văn Phù Liễn (Hải Phòng) được Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cho xây dựng từ năm 1902 với tên gọi “Sở khí tượng và đài quan trắc trung tâm Đông Dương”, đến năm 1930 đã vận hành một cách truyền tin khá đa dạng: các bản tin thời tiết phục vụ hàng hải hằng ngày được phát bằng vô tuyến điện, điện thoại, thông báo trực tiếp tại cảng và các phòng bưu điện ven biển, thậm chí qua các cột tín hiệu semaphore dọc bờ biển. Đài còn đảm nhận việc thu phát tin dự báo hằng ngày tới các đài khí tượng khác ở Việt Nam, Lào, Campuchia và các trạm quốc tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đến thời điểm đó, việc trao đổi thông tin khí tượng đã vượt ra ngoài từng trạm và được thực hiện giữa nhiều điểm trong khu vực.

Dù hoạt động khí tượng đã hiện diện ở Việt Nam từ năm 1867 và Trạm Khí tượng đầu tiên được thành lập năm 1891 tại Tòa Công sứ Nam Định, lịch sử ngành khí tượng thủy văn Việt Nam được xác định bắt đầu từ ngày 3/10/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41-SL, đưa Sở Thiên văn và Đài Thiên văn Phù Liễn về trực thuộc Bộ Giao thông Công chính với tên gọi Sở Khí tượng, đánh dấu việc cơ quan khí tượng thủy văn trở thành một cơ quan của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ mốc này, hoạt động khí tượng được tổ chức trong hệ thống cơ quan của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong nhiều thập kỷ sau đó, việc truyền số liệu từ vài chục trạm (tiếp quản từ thời Pháp, và sau năm 1975 là từ chính quyền Sài Gòn cũ) về trung tâm dự báo chủ yếu dựa vào điện báo (telegraph) và mã Morse qua sóng vô tuyến. Đây là phương thức thu thập số liệu khí tượng trong nước và quốc tế chủ đạo, quyết định trực tiếp đến công tác dự báo và cũng là phương thức đòi hỏi con người mã hóa, phát và giải mã thủ công từng bản tin.

Hệ thống truyền dữ liệu này vận hành theo một quy trình tương đối chặt chẽ. Từ phía các trạm, với những trạm không có máy vô tuyến, số liệu được gửi qua điện báo của bưu điện: quan trắc viên đi bộ đến bưu điện gần nhất (thường mất khoảng 5–10 phút, tùy khoảng cách), rồi thảo mã (khoảng 5 phút). Ở trung tâm, Phòng Thông tin Vô tuyến điện trực thuộc Cục Dự báo, Tổng cục Khí tượng Thủy văn (số 4 Đặng Thái Thân, Hà Nội) đóng vai trò đài trưởng mạng (đài chủ của mạng), kết nối trực tiếp với 15 đài tỉnh. Khi vào phiên liên lạc, đài trưởng mạng phát tín hiệu gọi chung toàn mạng, dùng tín hiệu để giữ trật tự, tránh các đài đè sóng nhau; quá trình nhận mã, giải mã của 15 đài mất khoảng 15 phút. Như vậy toàn bộ quá trình truyền tải thông tin từ các bản chép tay đến trung tâm dự báo mất khoảng 20–30 phút.

Điều làm tôi ấn tượng về thời kỳ Morse là yêu cầu rất cao về kỷ luật, sự tập trung và độ chính xác. Các yếu tố quan trắc phải được mã hóa thành những nhóm số; người phát và người nhận đều phải thực hiện đúng quy trình. Trong điều kiện nhiễu sóng hoặc tín hiệu yếu, việc bảo đảm bản tin được truyền và nhận đầy đủ đã là một nhiệm vụ không đơn giản.”

GS.TS. Trần Thục — Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam

Hình 2. Máy vô tuyến đàm thoại dùng để đọc dữ liệu từ trạm về trung tâm, được đưa vào sử dụng năm 1960. Nguồn: Cục Khí tượng Thủy văn.
TỪ TRẠM ĐẾN BÀN DỰ BÁO

Đi bộ ra bưu điện

 

5–10 phút

Thảo mã

 

~5 phút

Thu, giải mã 15 đài

 

~15 phút

20–30phút từ bản chép tay đến trung tâm dự báo

Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ là thử thách khắc nghiệt nhất đối với hệ thống quan trắc và truyền tin này. Trong 8 năm chiến tranh phá hoại ác liệt ở miền Bắc, gần 40% số trạm KTTV đã bị bắn phá, có trạm thậm chí bị bắn phá hàng chục lần nhưng không trạm nào bị gián đoạn quan trắc. Chuỗi số liệu quan trắc hằng ngày, hằng giờ vẫn được truyền kịp thời tới các trung tâm dự báo để phục vụ phòng chống thiên tai và nhu cầu cấp bách của sản xuất và chiến đấu. Trong giai đoạn này, 20 quan trắc viên KTTV đã hy sinh khi làm nhiệm vụ dưới bom đạn của không quân Hoa Kỳ2.

~40%
số trạm KTTV miền Bắc bị bắn phá trong 8 năm chiến tranh phá hoại
0
trạm bị gián đoạn quan trắc
20
quan trắc viên KTTV đã hy sinh khi làm nhiệm vụ dưới bom đạn 2

Sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vào ngày 8/7/1975 và ngay trong hai năm 1975, 1976 đã đăng ký 22 trạm khí tượng vào mạng lưới quan trắc cơ bản toàn cầu để phát báo quốc tế (trong đó có cả hai trạm đảo Trường Sa và Hoàng Sa). Sau năm 1985, với sự tài trợ của UNDP qua dự án VIE/80/051, ba trạm thu ảnh mây vệ tinh địa tĩnh độ phân giải thấp cùng hệ thống thông tin điền đồ tự động lần đầu tiên được đưa vào sử dụng. Việc đưa các trạm thu ảnh mây vệ tinh và hệ thống điền đồ tự động vào sử dụng đánh dấu một bước chuyển về công nghệ thu nhận và xử lý dữ liệu.

Đến khoảng năm 1990, mạng lưới đã mở rộng lên 500 trạm KTTV trên toàn quốc, được trang bị bổ sung hàng loạt máy vô tuyến đàm thoại và máy thu facsimile để nhận bản đồ synop từ các trung tâm khu vực, và phương thức truyền tin bằng mã Morse – A1 chính thức ngừng lại. Nhờ đó, một hệ thống thông tin chuyên ngành được thiết lập với ba cụm chủ chốt: các trạm ven biển, hải đảo phục vụ dự báo bão và không khí lạnh; các trạm thủy văn đầu nguồn phục vụ dự báo lũ; và cụm trạm phát báo quốc tế. Đài trưởng mạng thu nhận dữ liệu vô tuyến điện quốc tế từ Bắc Kinh, từ WMO, các nước Đông Âu, Tây Âu, Ấn Độ… để kỹ thuật viên vẽ bản đồ thời tiết cho cả khu vực Âu – Á. Từ khoảng những năm 2000, tự động hóa, cơ sở dữ liệu tập trung, tính toán hiệu năng cao, internet, truyền tin di động và vệ tinh được ứng dụng ngày càng rộng trong ngành.

Truyền tin bằng điện báo, vô tuyến và facsimile trong giai đoạn này đã duy trì được nguồn dữ liệu phục vụ công tác dự báo nhưng cũng gặp khá nhiều hạn chế. Vô tuyến sóng ngắn có thể bị nhiễu hoặc suy giảm tín hiệu; facsimile có thể gặp lỗi đồng bộ, chất lượng đường truyền hoặc sự cố cơ khí; tại các trạm xa còn có những khó khăn về điện, ắc quy, máy phát và ăng-ten. Một bản tin có thể chỉ mất một số phút để phát, nhưng tính cả quan trắc, mã hóa, chờ phiên truyền, tiếp nhận và đưa đến người sử dụng thì có thể mất hàng chục phút, thậm chí lâu hơn khi điều kiện truyền sóng không thuận lợi.

Trong thời kỳ chiến tranh, cán bộ truyền tin vừa phải duy trì nhiệm vụ chuyên môn, vừa bảo đảm an toàn trong điều kiện cơ sở vật chất và thông tin liên lạc nhiều hạn chế. Một nghịch lý của truyền tin KTTV là khi thời tiết càng nguy hiểm, nhu cầu số liệu càng cao, nhưng hệ thống quan trắc và truyền tin tại khu vực chịu ảnh hưởng cũng dễ gặp sự cố hơn.

KÝ ỨC TỪ NGƯỜI TRONG CUỘC

“Vít trời cao đón tiếng tịch tà”

Ông Hà Cường, nguyên Đài trưởng vô tuyến điện, gói gọn công việc truyền tin thời ấy trong hình ảnh ấy – ngày ngày đeo tai nghe đón từng tiếng tích tè của mã Morse từ các đài gửi về.

Hành trình của một “bản tin ốp”
Nhịp 8 “ốp” mỗi ngày (giờ UTC)
00h
03h
06h
09h
12h
15h
18h
21h

“Quy trình xử lý một ‘bản tin ốp’ khá chặt chẽ: quan trắc viên đo xong nhiệt độ, hướng gió, tốc độ gió, khí áp, lượng mưa… liền mã hóa thành các nhóm 5 chữ số (mỗi bản tin chừng 8–10 nhóm, mất khoảng 5 phút để ‘thảo mã’); điện báo viên tại đài trưởng mạng đeo tai nghe, chép mã Morse trực tiếp ra giấy, thu xong cả 15 đài mất khoảng 15 phút, rồi chép sạch vào sổ và đi bộ giao tận tay Phòng Dự báo ở cùng tầng. Mạng lưới vận hành theo nhịp 8 ‘ốp’ một ngày, đúng các giờ chẵn và lẻ theo giờ quốc tế (UTC) (00h, 03h, 06h, 09h, 12h, 15h, 18h, 21h) với độ trễ chỉ khoảng 20–30 phút từ lúc đo xong đến khi Phòng Dự báo nhận được tin, trong khi một bản tin vẫn còn giá trị dự báo tốt trong vòng 3 giờ.”

Ông Hà Cường — nguyên Đài trưởng vô tuyến điện

03
2000 – NAY · GẦN THỜI GIAN THỰC

Mạng lưới tự động hóa và kết nối toàn cầu

Đến nay, quy mô và mức độ tự động hóa của mạng lưới KTTV đã khác căn bản so với thời kỳ điện báo và vô tuyến thủ công. Tính đến năm 2026, mạng lưới đã có 2.850 trạm, điểm đo phủ khắp cả nước, tăng tới 63% so với giai đoạn 2016–2020, với hơn 1.100 trạm mới tập trung ở những vùng núi cao, lũ quét mà thời trước gần như “trắng” thông tin.

Vẫn còn một số trạm thủ công, nhưng tỷ lệ tự động hóa đã tăng mạnh trong thời gian qua.

TỶ LỆ TỰ ĐỘNG HÓA QUAN TRẮC
Nguồn: Cục KTTV 2
Đo mưa100%
 
Giông sét100%
 
Bức xạ (đầu tư mới)100%
 
Hải văn83,3%
 
Thủy văn73,9%
 
Khí tượng65%
 

Về hạ tầng, hệ thống thông tin KTTV hiện nay gồm hệ thống máy chủ, các hệ thống thông tin chuyên ngành, kênh thông tin quốc tế (GTS và WIS) và hệ thống mạng riêng, được thiết kế để duy trì hoạt động ổn định, thông suốt trong mọi tình huống, kể cả khi có thời tiết nguy hiểm. Độ trễ truyền phát hiện nay cũng đã được quy định cụ thể: trạm KTTV tự động phải truyền số liệu với tần suất ít nhất 10 phút/lần và không được chậm hơn 2 phút kể từ thời điểm có số liệu3. So với độ trễ khoảng 20–30 phút của thời kỳ Morse, yêu cầu truyền hiện nay đã rút ngắn xuống mức gần thời gian thực.

Độ trễ từ lúc đo đến trung tâm: xưa và nay

Thời kỳ Morse20–30 phút
 

8 phiên mỗi ngày · mã hóa, phát và giải mã thủ công · vài chục trạm

Trạm tự động hôm nay≤ 2 phút
 

Ít nhất 10 phút/lần · mạng di động, vệ tinh, mạng chuyên dụng · 2.850 trạm, điểm đo

Hình 3. Mô hình truyền tin dữ liệu KTTV hiện nay.

Số liệu từ các trạm tự động và cảm biến giờ được truyền qua mạng di động, vệ tinh và hệ thống mạng chuyên dụng, không còn cảnh người trực đọc số, mã hóa Morse như xưa. Việt Nam hiện tham gia mạng trao đổi dữ liệu toàn cầu do WMO điều phối, đồng thời gửi dữ liệu trong nước và tiếp nhận dữ liệu quốc tế phục vụ nghiệp vụ.

Hệ thống Viễn thông Toàn cầu (GTS) của WMO lâu nay là hạ tầng trao đổi số liệu KTTV giữa các quốc gia. Từ ngày 1/1/2025, WIS 2.0 bước vào giai đoạn vận hành; trong thời kỳ chuyển tiếp, GTS vẫn được duy trì song song.

Để khắc phục những bất cập về truyền tin khi có thiên tai, định hướng sắp tới là xây dựng mạng truyền tin dự phòng đa phương thức: vô tuyến sóng ngắn HF, cáp quang, vệ tinh VSAT, điện thoại vệ tinh, mạng truyền dẫn thế hệ mới tại các địa điểm trọng yếu như đảo, biên giới, ven biển và vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, đồng thời tăng cường an ninh thông tin theo mô hình giám sát 4 lớp.

Cùng với hiện đại hóa quan trắc và truyền tin, sản phẩm dự báo được phát hành đa dạng và chi tiết hơn. Theo số liệu trong báo cáo của Cục KTTV, bản tin bão, lũ được phát hành sớm hơn 30 phút đến 1 giờ; độ tin cậy đối với một số hiện tượng cực đoan đạt 70–80%; thiệt hại về người và tài sản giảm lần lượt 54% và 78% so với 10 năm trước.

2021 – GIỮA 2025 · THEO DÕI VÀ DỰ BÁO

Giai đoạn 2021 đến giữa 2025, ngành đã theo dõi và dự báo 46 cơn bão, 114 đợt không khí lạnh và 111 đợt mưa lớn trên cả nước. Khối lượng và tần suất cập nhật như vậy khó có thể thực hiện bằng phương thức điện báo, vô tuyến thủ công trước đây.

Góc nhìn so sánh xưa – nay

Nếu trước đây số liệu phải trải qua nhiều khâu từ quan trắc, ghi chép, mã hóa, chờ phiên truyền đến tiếp nhận, thì ngày nay dữ liệu từ nhiều trạm tự động có thể được truyền về hệ thống trung tâm với tần suất cao và độ trễ rất thấp. Tuy nhiên, tốc độ không phải giá trị quan trọng nhất, nhanh mà không chính xác thì không có ý nghĩa. Điều quan trọng vẫn là số liệu phải chính xác, liên tục, được kiểm soát chất lượng, có khả năng truy xuất nguồn gốc và được lưu giữ tốt.

Tôi càng thấy rõ điều này khi nhìn vào các nghiên cứu phục hồi dữ liệu khí hậu lịch sử. Những số liệu từng được ghi trong nhật ký, báo cáo, bảng biểu và tài liệu giấy từ nửa sau thế kỷ XIX và các giai đoạn sau đang được thu thập, số hóa, kiểm soát chất lượng và sử dụng trở lại để nghiên cứu khí hậu. Các chuỗi số liệu lịch sử có thể còn khoảng trống, nhưng giá trị của chúng cho thấy số liệu đo hôm nay có thể tiếp tục được sử dụng hàng chục năm sau. Vì vậy, đo cho đúng, kiểm soát chất lượng và lưu giữ số liệu tốt cũng quan trọng không kém việc truyền số liệu thật nhanh.”

GS.TS. Trần Thục — Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam

04
HƯỚNG TỚI 2030 – 2045

Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo

Theo Chiến lược phát triển ngành KTTV đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 20454, mục tiêu đến năm 2030 là phát triển ngành KTTV Việt Nam đạt trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của khu vực châu Á, đủ năng lực cung cấp thông tin, dữ liệu KTTV đầy đủ, tin cậy, kịp thời; còn đến năm 2045, ngành đặt mục tiêu có trình độ, năng lực tương đương các nước phát triển trên thế giới.

Dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang trở thành lớp công nghệ tiếp theo trong hệ thống KTTV. Thế giới đang chứng kiến xu thế quan trắc tự động và ứng dụng AI ngày càng sâu rộng trong lĩnh vực này; nhiều trung tâm khí tượng hàng đầu như ECMWF (châu Âu), JMA (Nhật Bản) đã đưa AI và học sâu vào vận hành để hiệu chỉnh sai số mô hình và dự báo tức thời (nowcasting).

Tại Việt Nam, dữ liệu lớn đã có nền tảng hạ tầng khá cụ thể: mạng lưới hơn 3.200 trạm đo mưa tự động, 10 radar thời tiết và hệ thống định vị sét tạo ra nguồn dữ liệu độ phân giải cao lưới 1×1 km, cập nhật liên tục; mô hình dự báo số trị chạy trên siêu máy tính có thể cung cấp dữ liệu chi tiết tới lưới 3×3 km. Theo ông Nguyễn Xuân Hiển, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia, việc tích hợp AI vào dự báo bão và thời tiết nguy hiểm đã giúp cải thiện độ chính xác dự báo cường độ bão từ 10–20% trong ngắn hạn, đồng thời cho phép nhận dạng tự động vị trí và cường độ bão từ dữ liệu vệ tinh với độ chính xác trên 90%.

AI ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
+10–20%độ chính xác dự báo cường độ bão ngắn hạn
> 90%nhận dạng tự động vị trí, cường độ bão từ vệ tinh
MỤC TIÊU CỦA NGÀNH
< 7 m/ssai số dự báo cường độ bão, hạn 1–3 ngày
2–5 ngàynhận diện sớm lũ, thời tiết nguy hiểm bằng mô hình AI
> 60%tỷ lệ dự báo mưa đạt ở các ngưỡng quan trọng

Ngành đặt mục tiêu cụ thể: giảm sai số dự báo cường độ bão xuống dưới 7 m/s trong hạn 1–3 ngày, phát triển các mô hình AI có khả năng dự báo lũ và nhận diện sớm các hiện tượng thời tiết nguy hiểm trước 2–5 ngày và nâng tỷ lệ dự báo mưa đạt trên 60% với các ngưỡng quan trọng, dù hiện tại độ chính xác dự báo mưa lớn vẫn còn thấp, đặc biệt ở các ngưỡng nguy hiểm5.

Dữ liệu KTTV ngày càng được sử dụng không chỉ cho phòng, chống thiên tai mà còn cho quy hoạch đô thị, nông nghiệp và năng lượng. Việc vận hành các hệ thống cảnh báo sớm đa thiên tai cho thấy truyền tin KTTV đang chuyển từ mục tiêu chuyển số liệu nhanh sang cung cấp thông tin cảnh báo kịp thời cho người sử dụng.

AI rất hữu ích khi phải xử lý lượng dữ liệu lớn trong thời gian ngắn và có thể phát hiện những mẫu mà con người khó nhận ra. Nhưng dự báo cuối cùng không thể giao cho máy: con người vẫn phải kiểm tra, thẩm định và chịu trách nhiệm.

Nhiều mô hình AI học chủ yếu từ dữ liệu quá khứ, trong khi biến đổi khí hậu có thể làm thay đổi trạng thái nền và đặc trưng của các hiện tượng cực đoan. Vì vậy, mô hình phải được đánh giá và cập nhật thường xuyên, không thể xây dựng một lần rồi dùng mãi.”

GS.TS. Trần Thục — Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam

Về AI/big data, Cục KTTV đang xây dựng Chương trình nghiên cứu phát triển, ứng dụng KHCN và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026–2030 (theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW), tập trung vào trí tuệ nhân tạo, mô hình số trị thế hệ mới, mô phỏng số (Digital Twin), hạ tầng tính toán đám mây và quản trị dữ liệu mở.

THƯ GỬI THẾ HỆ TIẾP NỐI

Lời nhắn của GS.TS. Trần Thục

Tôi vẫn thường nói với các nhà khoa học trẻ rằng, để thành công, trước hết phải có đam mê và kiên định với điều mình theo đuổi. Nhưng đam mê thôi chưa đủ. Các bạn không nên tự bó hẹp mình trong một chuyên ngành quá hẹp. Tôi được đào tạo về KTTV, sau này phải tự học và mở rộng sang BĐKH. Nếu không liên tục tự đào tạo thì rất khó theo kịp những vấn đề mới của khoa học. Và hãy bắt đầu từ những việc nhỏ, những nghiên cứu nhỏ để có thể ghép thành một bức tranh lớn hơn. Một nghiên cứu nhỏ nhưng nằm trong một hướng nghiên cứu dài hạn vẫn có thể tạo ra giá trị lớn.

Với các bạn trẻ làm KTTV, tôi nghĩ AI, dữ liệu lớn và mô hình dự báo số trị là những nội dung cần học và biết sử dụng. Nhưng công nghệ càng mạnh thì càng không được phụ thuộc vào nó. Trước hết vẫn phải hiểu số liệu, hiểu hiện tượng và biết công cụ mình dùng có thể sai ở đâu.

Từ truyền tin bằng Morse đến dữ liệu gần thời gian thực và AI, công cụ của ngành đã thay đổi rất xa. Nhưng người làm KTTV vẫn cần:

  1. 01

    Yêu nghề

  2. 02

    Liên tục học

  3. 03

    Làm số liệu cẩn thận

  4. 04

    Hiểu trách nhiệm của mình đối với xã hội

Hình 4. GS.TS. Trần Thục (thứ hai từ trái), Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam, cùng đoàn công tác tại Trạm Thủy văn Mường Xén, tháng 9/2026.

 

Từ Morse đến truyền dữ liệu gần thời gian thực và AI, phương thức truyền tin KTTV đã thay đổi căn bản. Mạng lưới hiện nay gồm 2.850 trạm, điểm đo và được kết nối với hệ thống trao đổi dữ liệu của WMO. Trong thời gian tới, yêu cầu không chỉ là truyền nhanh hơn mà còn phải bảo đảm dữ liệu chính xác, liên tục, an toàn và đủ chất lượng để phục vụ dự báo, cảnh báo; các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và vì tương lai bền vững. 

Tác giả: Nguyễn Hoa
Lời cảm ơn

Tác giả xin chân thành cảm ơn Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam – GS.TS. Trần Thục đã dành thời gian trao đổi, chia sẻ những kiến thức và góc nhìn chuyên môn quý báu cho bài viết; cảm ơn Đài trưởng vô tuyến điện Hà Cường, nguyên Phó Trưởng phòng Thông tin vô tuyến điện – Cục Dự báo – Tổng cục Khí tượng Thủy văn đã thông tin về hoạt động truyền tin dữ liệu KTTV; cảm ơn Phòng Thông tin tư liệu KTTV – Trung tâm Thông tin và Dữ liệu KTTV, Văn phòng Cục KTTV đã nhiệt tình hỗ trợ cung cấp tư liệu, hình ảnh lưu trữ quý giá và xin cảm ơn sự giúp đỡ của các anh chị đồng nghiệp trong suốt quá trình thực hiện bài viết này.

Tài liệu tham khảo
  1. Nguyen-Xuan, T., Ngo-Duc, T., Nguyen-Duy, T., Nguyen-Ngoc-Minh, T., Nguyen-Le, D., Pham, T. T. N., Thomas, F., & Woillez, M.-N. (2025). Developing historical gridded climate datasets for Vietnam using reanalysis data and station observations since the 1940s (AFD Research Papers No. 395). Agence Française de Développement.

  2. Cục Khí tượng Thuỷ văn. (2026). Báo cáo thành tựu 81 năm xây dựng và phát triển ngành Khí tượng Thuỷ văn Việt Nam (03/10/1945 – 03/10/2026).

  3. Quyết định số 338/QĐ-KTTV ngày 30/6/2025 của Cục Khí tượng Thủy văn ban hành Quy định về truyền phát, điện báo và kiểm soát chất lượng dữ liệu quan trắc phục vụ dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn.

  4. Quyết định số 1970/QĐ-TTg ngày 23/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Ngành Khí tượng Thủy văn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

  5. Hạnh Nhung, “AI giúp dự báo bão chính xác, cảnh báo thiên tai nhanh hơn”, Báo Đại biểu Nhân dân, 19/3/2026. daibieunhandan.vn

Ý kiến

Thư chúc mừng 81 năm Ngày truyền thống Ngành Khí tượng Thủy văn Việt Nam

Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Khí tượng Thủy văn Việt Nam (03/10/1945 - 03/10/2026), Lãnh đạo Cục Khí tượng Thủy văn đã gửi thư chúc mừng tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động toàn Ngành.
Lễ phát động hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2026

Lễ phát động hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2026

Sáng ngày 20/9 tại Công viên Thống Nhất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã tổ chức Lễ phát động hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2026 với chủ đề “Từ đĩa ăn sạch đến thành phố sạch”.

Việt Nam đăng cai Hội nghị quốc tế của Tổ chức khí tượng thế giới (WMO): Quy tụ các chuyên gia quốc tế hàng đầu về dự báo thời tiết nguy hiểm

Từ ngày 21 đến ngày 24/9/2026, tại Hà Nội, Cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ chủ trì tổ chức Hội nghị Ban tư vấn dự báo thời tiết nguy hiểm của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO). Sự kiện quy tụ các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện cơ quan khí tượng thủy văn đến từ nhiều quốc gia, nhằm tăng cường hợp tác quốc tế, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm trước các hiện tượng thời tiết nguy hiểm.